Hiểu đúng về “Bệnh loãng xương”

28/05/2015

Chưa có bình luận

3049 lượt xem

Đại cương về bệnh loãng xương

bệnh loãng xương là gìTừ nửa đầu thế kỷ 18, nhà giải phẫu học J. Martin Lostein đã đề cập đến khái niệm về bệnh loãng xương. Năm 1903 – 1940, Albright là người đầu tiên đưa ra khái niệm loãng xương là sự Calci hóa không đầy đủ ở khung xương.  Sau đó, nhờ sự tiến bộ trong kỹ thuật thăm dò hình thái và tổ chức học của xương, các công trình nghiên cứu của Bordier và Meunier  đưa ra định nghĩa: Loãng xương là sự giảm toàn bộ khối lượng xương. Sau đó, định nghĩa loãng xương chính thức được Tổ Chức Y Tể thế giới (WHO) thống nhất năm 1993 và sửa đổi năm 2001. Các khái niệm về loãng xương ban đầu chỉ nêu các loãng xương liên quan tới tình trạng mãn kinh ở phụ nữ, sau đó, các nguyên nhân gây loãng xương sinh lý và bệnh lý, các yếu tố nguy cơ gây loãng xương đã được nghiên cứu. Các thuốc điều trị loãng xương ngày càng được ứng dụng trên lâm sàng và đem lại nhiều kết quả khả quan.

Định nghĩa “bệnh loãng xương”

  • Định nghĩa của WHO (World Health Organization) năm 1993:

Loãng xương là một bệnh lý của xương, được đặc trưng bởi sự giảm khối lượng xương kèm theo hư biến cấu trúc của xương, dẫn đến tăng tính dễ gãy của xương, tức là có nguy cơ gãy xương. Do vậy, cần đo mật độ xương để đánh giá nguy cơ gãy xương.

  • Định nghĩa của WHO (World Health Organization) năm 2001:

Loãng xương được đặc trưng bởi sự thay đổi sức mạnh của xương. Sức mạnh của xương được đặc trưng bởi mật độ xương và chất lượng của xương. Chất lượng xương được đánh giá bởi các thông số: cấu trúc của xương, chu chuyển xương, độ khoáng hóa, tổn thương tích lũy, tính chất của các chất căn bản của xương. Trong các thông số này, chu chuyển xương đóng một vai trò quan trọng.

Chúng ta đều biết, quá trình hủy và tạo xương luôn liên tục diễn ra trong cơ thể, nếu quá trình này cân bằng thì mật độ xương sẽ bình thường. Nếu quá trình hủy xương lớn hơn quá trình tạo xương hoặc quá trình tạo xương thấp hơn quá trình hủy xương sẽ dẫn đến quá trình loãng xương. Tuy nhiên, nếu quá trình hủy và tạo xương cân bằng nhưng diễn ra quá nhanh (chu chuyển xương nhanh) thì sẽ gây ra giảm sức mạnh của xương. Xương lúc đó có thể ví như con đường được lát bằng xi măng, lúc chưa khô thì sức chịu lực rất kém. Do vậy, sức mạnh của xương là một thông sổ rất quan trọng, thậm chí còn quan trọng hơn cả mật độ xương. Các thông số về sức mạnh của xương hiện đang được nghiên cứu trong phòng thí nghiệm để tìm ra các chỉ số có thể ứng dụng trên lâm sàng. Hiện nay, mật độ xương vẫn là tiêu chuẩn vàng để đánh giá sớm nhất tình trạng loãng xương trên lâm sàng.

Phân loại bệnh loãng xương

Theo nguyên nhân gây bệnh loãng xương, thì loãng xương được chia làm 2 loại là loãng xương nguyên phát và loãng xương thứ phát.

  • Loãng xương nguyên phát: lại được chia thành 2 typ là:

+ Loãng xương nguyên phát typ 1 (loãng xương ở phụ nữ sau mãn kinh): Bệnh thường gặp ở phụ nữ sau mãn kinh hoặc ở phụ nữ sau cắt bỏ buồng trứng khoảng 5-10 năm.

+ Loãng xương nguyên phát typ 2 (loãng xương ở người có tuổi). Bệnh thường gặp ở người sau tuổi 60, và xuất hiện ở cả nam và nữ.

  • Loãng xương thứ phát: Là bệnh loãng xương gây ra do các nguyên nhân bệnh lý hoặc một số thuốc hoặc một số yếu tố có nguy cơ cao (bất động, dùng nhiều rượu bia, thuốc lá,…). Triệu chứng loãng xương thường gặp ở những bệnh nhân suy sinh dục, cường vỏ thượng thận, dùng nội tiết vỏ thượng thận kéo dài, cường cận giáp, cường giáp, rối loạn hấp thu, thiếu Calci, bất động dài ngày, điều trị bằng heparin kéo dài,…

Cần làm gì để phát hiện và điều trị loãng xương

Nếu bạn từ 40 tuổi trở lên, có các triệu chứng đau nhức xương đặc biệt là ở những vị trí chịu lực như cột sống, thắt lưng, xương chậu, xương hông, đầu gối, dọc các xương dài,… hoặc giảm chiều cao, gù vẹo cột sống lưng, gãy xương,… hãy nghĩ đến “bệnh loãng xương”.   Để phát hiện chính xác bệnh loãng xương, bạn nên đi đo mật độ xương. Nếu chỉ số T-Score ≤ – 2,5 thì chắc chắn bạn đã bị loãng xương.

Khi đã bị loãng xương, việc điều trị sẽ rất tốn kém về tài chính, thời gian điều trị kéo dài hàng năm, các thuốc điều trị có rất nhiều tác dụng phụ. Bạn cần tuân thủ theo hướng dẫn của thầy thuốc.  Đồng thời, chế độ ăn uống, vận động và hỗ trợ điều trị là cực kỳ quan trọng.

Trong mọi phác đồ, luôn phải cung cấp đủ calci, trung bình 1.000mg mỗi ngày. Nếu chế độ ăn không đủ, cần cung cấp calci dưới dạng thuốc. Người nhiều tuổi nên uống kết hợp calci 1.000mg và vitamin D3 800UI hàng ngày. Cung cấp vitamin D hoặc chất chuyển hóa của vitamin D (Calcitriol – Rocaltrol) để tăng cường khả năng hấp thu và sử dụng calci của cơ thể.

Cung cấp MK7 (1 loại Vitamin K2 trong tự nhiên có nguồn gốc từ Natto – chất lên men từ đậu nành, được người Nhật Bản sử dụng như thực phẩm) giúp “đặt” Calci vào đúng chỗ cần và “kéo” Calci ra khỏi chỗ không cần (thậm chí chỗ nguy hiểm). Chỗ cần là xương và máu, chỗ không cần là vôi hóa thành mạch, vôi hóa các mô mềm.

Nếu có nhu cầu tư vấn kỹ hơn về phương pháp dự phòng và điều trị loãng xương, độc giả có thể gọi tới tổng đài 1900.545439 – 0439.978.898 hoặc gửi câu hỏi về hòm thư điện tử songkhoe@bacsituvan.vn để được các chuyên gia tư vấn (miễn phí).

Tìm hiểu về Sản phẩm Vững Cốt Vinh Gia

Tìm hiểu về sản phẩm Vindermen Plus

, , ,

Chưa có bình luận

Gửi bình luận của bạn tại đây

Đội ngũ chuyên gia

Copyright © 2015 - Bản quyền thuộc về Công ty Cổ phần Dược Phẩm Vinh Gia

Designed by Pridio

DMCA.com Protection Status